Khuyến cáo mới nhất của CDC về 10 loại vắcxin phổ biến nhất hiện nay

Chủ đề thuộc danh mục 'MUA ĐẤT - BÁN ĐẤT' được đăng bởi baobao53, 12/10/18.

  1. baobao53 Thành viên cấp 1

    Để dự phòng dịch bệnh hiệu quả, đầu tháng 8/2018, Cơ quan Kiểm soát & phòng dịch bệnh Mỹ (CDC) đã công bố khuyến cáo sử dụng một số vắcxin phổ biến, 10 loại vắcxin phổ thông nhất bây giờ vừa được tạp chí trực tuyến Verywellhealth cập nhật.[IMG]
    1.Vắcxin viêm gan B

    Nhóm dùng chính: trẻ lọt lòng, cả trai lẫn gái, nhưng cũng được đề xuất dùng cho mọi người.

    Độ tuổi tiêm mũi trước nhất: trong vòng 24 giờ sau khi sinh.

    Số liều: 3.

    thời kì các mũi tiêm: ngay lúc mới sinh; từ 1 đến 2 tháng tuổi; và từ 6 đến 18 tháng tuổi.

    Những lưu ý đặc biệt: vắcxin viêm gan B nhằm bảo vệ cơ thể trước nguy cơ mắc bệnh viêm gan B truyền qua máu. Viêm gan B là căn bệnh gây xơ gan, một tình trạng trong đó mô sẹo thay thế mô khỏe dẫn đến suy gan và ung thư gan. Siêu vi viêm gan loại B truyền nhiễm qua máu hoặc các chất dịch khác của thân. Tại Mỹ có 1,25 triệu người bị bệnh viêm gan b kinh niên. 36% những người này bị nhiễm bệnh ngay từ khi còn nhỏ. Có tới 25% người nhiễm bệnh ở độ tuổi sơ sinh đã chết khi trưởng thành do vậy việc tiêm phòng vắcxin đặc biệt quan trọng.

    Xem thêm:
    2. Vắcxin bạch hầu, ho gà và uốn ván (DTaP)

    Nhóm dùng chính: trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ (cả trai lẫn gái), nhưng cũng được đề xuất dùng cho mọi đối tượng

    Độ tuổi tiêm mũi đầu tiên: 2 tháng tuổi.

    Số liều: 5.

    Thời gian các mũi tiêm: 2 tháng tuổi; 4 tháng; 6 tháng; từ 15 đến 18 tháng tuổi; từ 4 đến 6 tuổi.

    Lưu ý đặc biệt: DPT là vắcxin phối hợp chống lại ba bệnh lây ở người là bạch hầu, ho gà và uốn ván. Các thành phần vắcxin bao gồm bạch hầu độc tố uốn ván và giết chết quờ quạng tế bào của vi khuẩn gây ho gà. Ho gà là căn bệnh rất dễ lây lan, gây ho kéo dài từ hai tuần trở lên, kèm theo mửa. Ho gà hiểm nguy nhất ở trẻ lọt lòng và có thể dẫn đến viêm phổi, thương tổn não, co giật và tử vong. Việc chủng ngừa DTaP có hiệu quả từ 80 - 89% thời kì nên có thể hiểu ngay cả khi một người được chủng ngừa, vẫn có thể bị nhiễm bệnh ho gà. DTaP cũng có tác dụng bảo vệ thân chống bệnh bạch hầu và uốn ván. Bệnh bạch hầu xuất hiện khi cổ họng trong một lớp phủ dày và dẫn đến bại liệt, suy tim, và các vấn đề hô hấp. Uốn ván là nguyên nhân gây co thắt cơ bắp, đặc biệt là đầu và cổ, vì thế nó được gọi là thủ phạm gây khít hàm”. Việc chủng ngừa vắc xin sẽ giảm đáng kể nguy cơ mắc bệnh, nên tiêm phòng theo khuyến cáo nói trên, hoặc từ năm 11 tuổi trở ra, sau đó cứ 10 năm tiêm một mũi tiếp.

    3. Vắcxin Hemophilus influenzae type B (Hib)

    Nhóm dùng chính: trẻ lọt lòng (cả trai lẫn gái), nhưng cũng được đề xuất dùng cho mọi người.

    Độ tuổi tiêm mũi trước tiên: 2 tháng tuổi.

    Số lượng liều: 3 hoặc 4 (tùy thuộc vào vắcxin được sử dụng).

    thời kì các mũi tiêm: 2 tháng tuổi; 4 tháng; 6 tháng; từ 12 đến 15 tháng tuổi.

    Lưu ý đặc biệt: Hemophilus influenzae type B (Hib), hay còn gọi là vắcxin Hib, được dùng ngăn ngừa bệnh Haemophilus influenzae týp b (Hib). Có thể dùng riêng(chỉ có Hib) hoặc phối hợp với các loại vắcxin khác. Vi khuẩn Hib lây lan qua không khí và khi nhiễm HIb có thể gây viêm màng não (nhiễm trùng dịch và niêm mạc não và tủy sống); viêm thanh quản và viêm phổi.

    Đọc thêm:
    4. Vắcxin cộng hợp phế cầu khuẩn (PCV13)

    Nhóm dùng chính: trẻ lọt lòng (cả trai lẫn gái), cũng được đề xuất dùng cho mọi người; nhóm người lớn từ 65 tuổi trở lên dùng một liều khuyến cáo độc nhất vô nhị.

    Độ tuổi tiêm mũi đầu tiên: 2 tháng tuổi.

    Số lượng liều: 4.

    thời kì các mũi tiêm: 2 tháng; 4 tháng; 6 tháng tuổi; từ 12 đến 15 tháng tuổi.

    Lưu ý đặc biệt: PCV13 bảo vệ thân chống lại bệnh phế cầu khuẩn. Ở trẻ nhỏ, bệnh phế cầu khuẩn có thể gây viêm màng não, nhiễm trùng máu phế cầu khuẩn. Còn ở người cao tuổi có thể gây viêm phổi. Cụ thể hơn, vắcxin PCV13 có thể bảo vệ chống lại 13 loại vi khuẩn phế cầu khuẩn. Nếu trẻ chưa được chủng ngừa PCV13 có thể bị viêm màng não do phế cầu khuẩn (gây tử vong cho khoảng 10% trẻ mắc bệnh), bởi thế chủng ngừa theo khuyến cáo là rất quan yếu. Viêm màng não phế cầu khuẩn cũng có thể gây mù và điếc. dù rằng mọi người có thể mắc bệnh phế cầu khuẩn, nhưng trẻ dưới hai tuổi, người trên 65 tuổi, người hút thuốc và những người có sức khỏe yếu là nhóm có rủi ro cao nhất. Do kháng thuốc nên kháng sinh được dùng để điều trị bệnh phế cầu khuẩn ít hiệu quả hơn, cho nên tiêm chủng lại càng quan yếu hơn.

    5. Vắcxin tê liệt bất hoạt (IPV)

    Nhóm dùng chính: trẻ lọt lòng (cả trai lẫn gái), cũng được đề xuất dùng cho mọi người.

    Độ tuổi dùng liều trước nhất: 2 tháng tuổi.

    Số lượng liều: 4.

    Thời gian các mũi tiêm: 2 tháng; 4 tháng; từ 6 - 18 tháng tuổi; từ 4 - 6 tuổi.

    Đường dùng: tại Mỹ vắcxin này chuyển sang tiêm từ năm 2000 còn ở các nước khác uống qua đường miệng.

    Lưu ý đặc biệt: đại đa số những người bị nhiễm bệnh tê liệt không hề có triệu chứng. Dưới 2% số người bị thua, hoặc nhiễm trùng hệ tâm thần trung ương có thể dẫn đến liệt vĩnh viễn. Tại Mỹ trong nhiều thập kỷ trở lại đây không có người bị kém nhưng CDC vẫn khuyến khích quờ con nít cần được chủng ngừa IPV để phòng tránh nguy cơ bùng phát bệnh bại lây lan từ các vùng có dịch.

    Xem thêm:
    6. Vắcxin ngừa Rotavirus

    Nhóm dùng chính: trẻ sơ sinh (cả trai lẫn gái), cũng được đề xuất dùng cho toàn bộ mọi người.

    Độ tuổi dùng liều trước tiên: 2 tháng tuổi.

    Số lượng liều: 2 hoặc 3 tùy thuộc vào thực tại.

    thời kì (cho trường hơp 3 liều): 2 tháng; 4 tháng; 6 tháng tuổi

    Đường dùng: đường miệng.

    Lưu ý đặc biệt: vắcxin ngừa Rotavirus giúp bảo vệ thân thể chống lại rotavirus, thủ phạm gây bệnh tiêu chảy ở con nít. Hiện có hai loại vắcxin rotavirus khác nhau đã được bảo chế nhằm cải thiện tình trạng vệ sinh nhưng không loại bỏ hoàn toàn được căn bệnh này. Rotavirus là nguyên cớ phổ thông gây tiêu chảy ở trẻ sơ sinh và trẻ nít trên toàn thế giới, riêng tại Mỹ có từ 2 - 3 triệu ca mắc bệnh, 60.000 ca nhập viện và tỉ lệ tử vong từ 20 - 60 ca.

    7. Vắcxin ngừa sởi, quai bị, rubella (MMR)

    Nhóm dùng chính: trẻ lọt lòng và trẻ nhỏ (cả trai lẫn gái), nhưng cũng được đề xuất dùng cho tất mọi người.

    Độ tuổi dùng liều trước tiên: 12 tháng tuổi.

    Số lượng liều: 2.

    Thời gian: 12 tháng; 15 tháng tuổi; từ 4 - 6 tuổi.

    Đường dùng: tiêm.

    Lưu ý đặc biệt: MMR là một loại vắcxin kết hợp, cung cấp bảo vệ thân thể chống lại bệnh sởi, quai bị và rubela. Bệnh sởi thường có liên can đến những đổi thay về da (xuất hiện đốm Koplik) và phát ban. Sởi còn gây bệnh cho não, hoặc thương tổn não. Quai bị gây viêm cực kỳ đau đớn của tuyến nước bọt, gây viêm tuyến tụy và dịch hoàn cũng như tổn thương não và tử vong. Rubella gây ra các hạch bạch huyết, phát ban da và đau khớp. ngoại giả, nó có thể gây ra dị tật bẩm sinh nghiêm trọng ở trẻ lọt lòng. Liều MMR trước hết chỉ phát huy tác dụng bảo vệ khoảng 95%, vì vậy cần phải tiêm liều thứ hai. Gần đây, tại Mỹ đã có những đợt bùng phát bệnh sởi ở những người không được chủng ngừa, như ở Disneyland chẳng hạn.

    Đọc thêm:
    8. Vắcxin phòng thủy đậu Varicella

    Nhóm dùng chính: trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ (cả trai lẫn gái), nhưng cũng được đề xuất dùng cho thảy mọi người.

    Độ tuổi dùng liều đầu tiên: 12 tháng tuổi.

    Số liều: 2.

    thời kì: 12 - 15 tháng tuổi; từ 4 - 6 tuổi.

    Đường dùng: tiêm.

    Lưu ý đặc biệt: Virút varicella-zoster (VZV) là thủ phạm gây bệnh thủy đậu (và bệnh zona ở người lớn). Căn bệnh nhiễm trùng rất dễ lây lan. làng nhàng cứ 1.000 trường hợp nhiễm VZV thì có 5 phải nhập viện. hồ hết các ca nhập viện đều ở độ tuổi 1 - 4, đây chính là lý do chủng ngừa vắcxin Varicella cho con trẻ là rất quan trọng. Ngoài nhiễm trùng da, VZV còn có thể gây bệnh viêm phổi. Chủng ngừa varicella-zoster cũng có thể được thực hiện cho nhóm người sau khi xúc tiếp với siêu vi khuẩn VZV để giảm thiểu nhiễm trùng. lợi. của việc tiêm phòng vắcxin varicella là chi ra 1USD thì tần tiện được chí ít 5 USD.

    9. Vắcxin phòng viêm gan A (HepA)

    Nhóm dùng chính: trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ (cả trai lẫn gái), nhưng cũng được đề xuất dùng cho tất mọi người.

    Độ tuổi dùng liều trước hết: 12 tháng tuổi.

    Số liều: 2.

    Thời gian: theo CDC, hai liều HepA dùng ở độ tuổi từ 12 - 23 tháng; Thời gian tiêm 2 liều tách xa nhau 6 - 18 tháng.

    Đường dùng: tiêm.

    Lưu ý đặc biệt: viêm gan A gây bệnh gan cấp tính (ngắn hạn). Nó lây lan qua đường thực phẩm, nước bị ô nhiễm và vệ sinh kém. dù rằng hiếm khi tử vong, nhưng viêm gan A có thể gây ra dịch, đe dọa cộng đồng. Theo đó, một người bị nhiễm nếu không được điều trị tiếp xúc với cộng đồng có thể phát bệnh cho cả tầng lớp như dịch xảy ra tại Thượng Hải, Trung Quốc năm 1988, khiến 300.000 người bị viêm gan A. Vì lý do này, việc chủng ngừa viêm gan A và duy trì an toàn thực phẩm sẽ có tác dụng hạn chế bệnh tốt nhất.

    10. Vắcxin phòng cúm

    Nhóm dùng chính: trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ, thanh thiếu niên, người lớn và người cao tuổi cả nam lẫn nữ.

    Độ tuổi dùng liều trước nhất: 6 tháng tuổi.

    Số liều: 1 hoặc 2 (tùy theo độ tuổi).

    thời kì: từ 6 tháng đến 9 năm tuổi (1 hoặc 2 liều); trên 9 tuổi tiêm hàng năm.

    Đường dùng: tiêm.

    Lưu ý đặc biệt: vắcxin phòng cúm bảo vệ con người trước nguy cơ cúm mùa. Đối với mọi người, cúm mùa thường gây khó chịu, phiền toái nhưng cũng có trường hợp gây tử vong. Theo CDC, hàng triệu người bị cúm mỗi năm, hàng trăm ngàn người phải nhập viện và hàng ngàn hoặc hàng chục ngàn người chết do các căn nguyên can hệ đến cúm. Ngay cả những người khỏe mạnh cũng có thể bị bệnh nặng vì cúm và lây lan sang người khác. vì vậy, việc chủng ngừa là rất quan trọng, không chỉ cho chính bản thân, cho gia đình mà còn mang lại ích lợi chung cho toàn xã hội, nhất là nhóm người có nguy cơ cao, như người già hoặc những người có hệ miễn dịch suy yếu.

Ủng hộ bài viết này

b57d9dd7e30f8fcc4bb162052b071cb09ed7c591